A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

Điều chỉnh nội dung dạy học trong chương trình, sách giáo khoa môn Ngữ văn Trung học Phổ thông – Tiếng nói từ cơ sở

Công văn số 5842/BGDĐT-VP, của Bộ GDĐT, ngày 01/9/2011 về việc Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học GDPT; Công văn số 791/HD-BGDĐT, ngày 25 tháng 06 năm 2013 của Bộ GĐ ĐT về việc hướng dẫn triển khai thực hiện thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông, bắt đầu từ năm học 2013-2014; Công văn số 4612/BGDĐT-GDTrH về việc hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ năm học 2017-2018;

I. Việc điều chỉnh, nội dung dạy học trong sách giáo khoa môn Ngữ văn Trung học Phổ thông trong thời gian qua và trong hoàn cảnh hiện nay xuất phát từ những cơ sở pháp lí và cơ sở thực tiễn sau:

1. Cơ sở pháp lí:

Công văn số 5842/BGDĐT-VP, của Bộ GDĐT, ngày 01/9/2011 về việc Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học GDPT; Công văn số 791/HD-BGDĐT, ngày 25 tháng 06 năm 2013 của Bộ GĐ ĐT về việc hướng dẫn triển khai thực hiện thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông, bắt đầu từ năm học 2013-2014; Công văn số 4612/BGDĐT-GDTrH về việc hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ năm học 2017-2018; các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học hàng năm; Công văn số 793/BGDĐT-GDTrH ngày 12 tháng 3 năm 2020của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT); Công văn số 803/BGDĐT-GDTrH, ngày 13/3/2020 của Bộ GDĐT về việc điều chỉnh khung kế hoạch thời gian năm học 2019-2020 (lần 2), trong đó quy định rõ: tiếp tục rà soát, tinh giản nội dung dạy học theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo; triển khai các hình thức dạy học qua internet, trên truyền hình; tổ chức ôn tập, kiểm tra công nhận kết quả học tập qua internet, trên truyền hình khi học sinh đi học trở lại.

2. Cơ sở thực tiễn:

Thứ nhất, xuất phát từ tính bất cập của chương trình, sách giáo khoa hiện hành: Trong thời gian qua, trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của Bộ, Sở, các Phòng Giáo dục và Đào tạo (GDĐT), các cơ sở giáo dục đã chủ động, mạnh dạn rà soát điều chỉnh chương trình, nội dung dạy học phù hợp với thực tiễn từng nhà trường và địa phương, các nhà trường đã tinh giản những nội dung dạy học vượt quá mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông hiện hành; điều chỉnh để tránh trùng lặp nội dung giữa các môn học, hoạt động giáo dục; bổ sung, cập nhật những thông tin mới phù hợp thay cho những thông tin cũ, lạc hậu; không dạy những nội dung, bài tập, câu hỏi trong sách giáo khoa vượt quá mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông hiện hành. Căn cứ chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, các giáo viên đã lựa chọn các chủ đề, rà soát nội dung các bài học trong sách giáo khoa hiện hành tương ứng với chủ đề đó để sắp xếp lại thành một số bài học tích hợp của từng môn học hoặc liên môn...

Thứ hai, tính phù hợp với đối tượng học sinh, thực tiễn từng địa phương và giáo dục gắn liền với vùng, miền đã được thể hiện quyền chủ động xây dựng, kế hoạch của từng địa phương, đơn vị.
Thứ ba, trong tình hình diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 đang diễn ra trong nước,ở nhiều quốc gia, khu vực và trên thế giới. Hiện nay, các cơ sở giáo dụctrên cả nướcphải nghỉ hoạt động dạy học, giáo dụcđể phòng, chống Covid-19. Trong thời gian qua, Bộ GDĐT đã có nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương, các cơ sở giáo dục có các giải pháp để giúp đỡ, hỗ trợ học sinh trong thời gian nghỉđể phòng, chống Covid-19.Cùng với các giải pháp đồng bộ cho Ngành GDĐT như: Tăng cường dạy học qua internet, trên truyền hình trong thời gian nghỉ học để phòng, chống Covid-19; điều chỉnh khung kế hoạchthời gian năm học 2019-2020,... thì việc tiếp tục rà soát, điều chỉnh nội dung dạy học là một trong những giải pháp vừa góp phần tinh giản để dạy và học phù hợp với chuẩn kiến thức, kỹ năng, phù hợp với thời lượng dạy học và điều kiện thực tế của nhà trường, góp phần định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh vừa đảm bảo yêu cầu khung kế hoạch thời gian năm học 2019-2020.

Trong khuôn khổ bài viết này, bản thân tập trung đề cập đến việc điều chỉnh nội dung dạy học trong sách giáo khoa môn Ngữ văn Trung học Phổ thông theo hướng tinh giản để dạy và học phù hợp với chuẩn kiến thức, kỹ năng, phù hợp với thời lượng dạy học và điều kiện thực tế của nhà trường, góp phần định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh và đặc biệt trong bối cảnh hiện nay góp phần đảm bảo yêu cầu khung kế hoạch thời gian năm học 2019-2020 và tháo gỡ khó khăn cho các cơ sở giáo dục.

3. Để giúp các giáo viên nhìn nhận và nắm bắt đầy đủ, trong bài viết, người viết đưa ra một số dẫn chứng minh họa cụ thể. Nội dung các bài trong sách giáo khoa lớp 6,7,8,9 và lớp 11 hiện hành do cũng có những bất cập cơ bản giống nhau nên bài viết sẽ không bàn kĩ, mà bài viết tập trung bàn bạc, trao đổi ở lớp 10 và lớp 12.

II. Để điều chỉnh nội dung dạy học trong sách giáo khoa môn Ngữ văn Trung học Phổ thông một cách đúng hướng, cần phải xác định rõ như sau:

Điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng rà soát chương trình, nội dung trong sách giáo khoa để tránh trùng lặp với các lớp học dưới hoặc trên, cụ thể như:

1. Theo chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành lớp 10 có 05 bài liên quan đến văn thuyết minh, chiếm số tiết khá lớn trong chương trình (trong đó có 1 bài được điều chỉnh theo công văn 5842: Bài số 5 (ở nhà): Viết bài văn thuyết minh). Lí do điều chỉnh, giảm tải số tiết: văn thuyết minh ở lớp 8 học sinh đã được học. Vì vậy, lớp 10 chỉ cần bổ sung một số kiến thức mới so với lớp 8.

Hay bài Truyện Kiều của Nguyễn Du, sách giáo khoa hiện hành thiết kế gồm Phần một: tác giả; Phần hai: Các đoạn trích.Tổng số bài trong SGK là 5 bài liên quan đến tác giả và trích đoạn (đã có 1 bài giảm tải theo Công văn 5842: Trích đoạn: Nỗi thương mình (Trích Truyện Kiều) từ đọc chính chuyển sang đọc thêm).Vì vậy, ở các bài này, giáo viên cần điều chỉnh để tinh giản. Cụ thể:
Đối với phần tác giả, giáo viên không cần phải tuân thủ và lệ thuộcnhư thiết kế trong sách giáo khoamà chỉ cần dành một thời lượng vừa phải (lí do ở lớp dưới học sinh đã được học: trong SGK Ngữ văn 9, trang 77 đến 80 đãđề cập khá rõ về Nguyễn Du và Truyện Kiều, trong khi đó ở SGK lớp 10, trang 92 đến 96 cũng đề cập đến vấn đề này, mặc dầu các bài học được thiết kế theo nguyên tắc đồng tâm, phát triển nhưng tính trùng lặp vẫn nhiều hơn so với tính phát triển, nâng cao theo từng lớp học).

Đoạn trích đọc thêm “Thề nguyền” trong SGK hiện hành thiết kế sau cùng và được thiết kế thành 1 bài riêng. Đối với bài này, giáo viên chủ động, linh hoạt chuyển lên trước đoạn trích “Trao duyên”. Đồng thời, giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh tự tìm hiểu, nghiên cứu và chuẩn bị bài học. Trước khi dạy đoạn trích “Trao duyên”, học sinh báo cáo sản phẩm đã chuẩn bị trước từ việc giáo viên đã giao nhiệm vụ tìm hiểu, nghiên cứu đoạn trích “Thề nguyền”. Nếu làm được như vậy, giáo viên sẽ giúp học sinh thấy được tính liền mạch của tác phẩm và giảm được thời gian ở một số chỗ không cần thiết.

Điều chỉnh theo hướng xây dựng các chủ đề dạy học: Những tiết học liên quan đến văn thuyết minh xây dựng thành 1 chủ đề, theo hướng tinh giảm, chỉ dạy chủ đề từ 2- 3 tiết.

Hoặc các bài dạy liên quan đến bài văn nghị luận: Trong sách giáo khoa hiện hành có tới 5 bài học về văn nghị luận được thiết kế tách rời, không liên tục với số tiết chiếm khá lớn. Xây dựng chủ đề văn bản nghị luận thiết kế từ 2 đến 3 tiết (đảm bảo tính liền mạch, hệ thống; hơn nữa văn bản nghị luận học ở lớp 10, học sinh sau này còn được học trong chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn 11, 12 như: Phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận và các bài liên quan đến bài văn nghị luận như các bài về thao tác lập luận (Ngữ văn 11); nghị luận về tư tưởng đạo lí; nghị luận về hiện tượng đời sống; nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ; nghị luận một ý kiến bàn về văn học (Ngữ văn 12).

2. Đặc biệt đối với nội dung dạy học trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12, giáo viên cần phải chủ động, mạnh dạn điều chỉnh trên nhiều phương diện và cấp độ:

- Điều chỉnh bằng việc khắc phục hiện tượng trùng lặp các bài ở các lớp dưới trong sách giáo khoa hiện hành “Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ” (trang 84, Ngữ văn 12, tập 1) đã có 02 bài: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ và bài “cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ” (sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9, tập 2, trang 76 đến 79,mặc dầu các bài học được thiết kế theo nguyên tắc đồng tâm, phát triển nhưng tính trùng lặp vẫn nhiều hơn so với tính phát triển, nâng cao theo từng lớp học ).

- Điều chỉnh, giảm tải trong việc chọn ngữ liệu đọc hiểu ở các đoạn trích dài: Với đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu không nhất thiết phải đọc hiểu toàn bộ đoạn trích. Thực tế, phần trích trong Việt Bắc (Ngữ văn 12, tập 1) không khó đối với học sinh lớp 12, một số đoạn thơ dễ hiểu và dễ khai thác. Vì vậy, khi tổ chức dạy học phần trích này, giáo viên giúp học sinh nắm vững kiến thức từ câu “Mình đi có nhớ những ngày....Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” (từ dòng thứ 1 đến dòng thứ 44); còn từ dòng 45 đến 82, trên cơ sở yêu cầu học sinh đọc, tự học, tự nghiên cứu giáo viên sẽ có những định hướng cơ bản, và các đoạn trích dài trong sách Ngữ văn 12 cũng nên theo hướng đó.

Nếu có cái nhìn đầy đủ từ chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn THCS đến THPT thì việc trùng lặp trong thiết kế còn nhiều. Đơn cử chỉ riêng văn học giai đoạn văn học 1930-1945 ở phong trào Thơ Mới: sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8 với bài: Ông đồ (Vũ Đình Liên), Nhớ rừng (Thế Lữ); sách giáo khoa lớp 11 với 3 bài: Vội vàng (Xuân Diệu), Tràng giang (Huy Cận), Đây thôn Vỹ Dạ (Hàn Mặc Tử) và một số bài đọc thêm; hay giai đoạn văn học từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975: Sách Ngữ văn lớp 9 ở mảng thơ ca cách mạng có: Đồng chí (Chính Hữu), Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật), truyện ngắn: Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng), Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê); lớp 12: thơ có Tây Tiến (Quang Dũng), truyện ngắn có: Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi),…

Các trích đoạn hay tác phẩm được đưa vào trong SGK không chỉ dừng lại ở mục đích giúp học sinh nắm vững nội dung, nghệ thuật của văn bản mà còn cho học sinh thấy được phong cách nghệ thuật của nhà văn, đóng góp riêng của họ trong đời sống văn học. Thực tế là nhiều tác phẩm/ văn bản được các tác giả soạn sách giáo khoa lược bỏ hoặc giảm tải qua phần chữ nhỏ; hoặc chỉ đưa ra một trích đoạn tiêu biểu, còn các trích đoạn còn lại trong tác phẩm, giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh tìm đọc...

Đối với những bài đọc thêm, trong chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành lớp 12, tập 1, như đoạn trích “Đất nước” (NguyễnĐình Thi), Dọn về làng (Nông Quốc Chấn), Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên), Đò Lèn của Nguyễn Duy, Bác ơi! (Tố Hữu),...Hay ở chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn 12, kỳ 2 có một số bài đọc thêm về đọc hiểu văn bản văn học: Bắt sấu rừng U Minh Hạ (Sơn Nam), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Một người Hà Nội (Nguyễn Khải),..

Đối với những bài đọc thêm các văn bản văn học này, giáo viên cần giao cho học sinh nhiệm vụ tự nghiên cứu, tự chuẩn bị bài học. Đến lớp, học sinh trình bày kết quả của quá trình chuẩn bị, các nhóm trao đổi, phát biểu góp ý cho nhau, giáo viên định hướng (các bài đọc thêm có thể lồng ghép vào sau các bài đọc chính, nếu tìm thấy các mối liên hệ về giai đoạn sáng tác, thi pháp nghệ thuật hoặc liên quan đến đề tài, chủ đề tác phẩm,...)

Với cách dạy này, giáo viên vừa phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu cho học sinh vừa giúp học sinh phát triển năng lực hợp tác, thuyết trình trong quá trình báo cáo sản phẩm trước lớp. Đồng thời, giáo viên sẽ dành thời gian để cho học sinh mở rộng tìm tòi, và có khả năng vận dụng vào từng bài học.

Điều chỉnh nội dung kiến thức theo hướng lồng ghép, tích hợp, cụ thể như:

Trong sách giáo khoa lớp 12, học kỳ 2 có các bài: Rèn luyện về kỹ năng mở bài, kết bài trong văn nghị luận; diễn đạt trong văn nghị luận; diễn đạt trong văn nghị luận (tiếp), chiếm số lượng tiết học khá nhiều. Nếu giáo viên khéo léo tích hợp, lồng ghép vào các tiết trả bài làm văn cho học sinh hoặc tiết dạy “nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi” (Ngữ văn 12, tập 2, trang 34) thì nội dung các bài dạy sẽ giúp học sinh tiếp nhận một cách linh hoạt, phù hợp và giúp học phát triển được năng lực thực hành, vận dụng nhiều hơn và thay thế một số ngữ liệu chưa tiêu biểu như thiết kế trong sách giáo khoa.

Điều chỉnh nội dung dạy học trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT bằng việc xây dựng các nội dung bài dạy học thông qua các hoạt động giáo dục: Đối với những bài ôn tập mang tính chất hệ thống lại kiến thức, giáo viên không nhất thiết phải tổ chức dạy học theo mô hình của lớp học truyền thống; hoặc một số hoạt động để mở rộng, tìm tòi hoặc vận dụng giáo viên không nhất thiết phải tổ chức ngay tại tiết học hay lớp học đó, mà cần phải linh hoạt, sáng tạo dưới hình thức các chương trình ngoại khóa, chuyên đề, câu lạc bộ; hệ thống các câu hỏi được thiết kế trong phần mềm (nếu ứng dụng phần mềm cùng một lúc sẽ kiểm tra được hàng trăm, hàng ngàn học sinh); một số tiết làm văn trên lớp/ hay ở nhà theo thiết kế trong sách giáo khoa không thực hiện một cách cứng nhắc, máy móc mà cần phải linh hoạt, sáng tạo theo định hướng kiểm tra, đánh giá học sinh như ở phần trên đã đề cập.

3. Điều chỉnh nội dung dạy học trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT theo hướng: rà soát nội dung để xây dựng chương trình, nội dung bài học mới để khắc phục tình trạng trùng lặp kiến thức trong bài học; sắp xếp, thiết kế lại thứ tự các bài đọc thêm trong sách giáo khoa,hoặc xây dựng chủ đề dạy học đơn môn hoặc liên môn; hay tích hợp, lồng ghép các bài học phù hợp với từng đơn vị kiến thức, đối tượng học sinh; đa dạng hóa các hình thức hoạt động giáo dục; ứng dụng các phần mềm,...thì một mặt nội dung các bài trong sách giáo khoa sẽ được tinh giản, mặt khác sẽ giảm được số lượng khá lớn tiết học trên một năm (khoảng từ 20 đến 25 tiết, có khối sẽ giảm được trên 30 tiết).

Vậy câu hỏi đặt ra số lượng các tiết học sẽ được giảm nhưng kiến thức và kỹ năng của học sinh có đảm bảo không? Những tiết học giảm và dôi dư ra, giáo viên và học sinh sẽ làm gì để tổng số tiết một năm không thay đổi?

4. Để việc điều chỉnh nội dung dạy học trong sách giáo khoa môn Ngữ văn Trung học Phổ thông phù hợp với chuẩn kiến thức, kỹ năng, phù hợp với thời lượng dạy học, góp phần định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh và đảm bảo yêu cầu khung kế hoạch thời gian năm học 2019-2020, số lượng các tiết học sẽ được giảm nhưng kiến thức và kỹ năng của học sinh vẫn được đảm bảo thì đặt ra trách nhiệm cho giáo viên và học sinh và Bộ GDĐT:

4.1. Đối với giáo viên:

Thứ nhất, việc điều chỉnh, tinh giản nội dung dạy học tuyệt đối không được theo lối sắp xếp, cắt bỏ tùy tiện và cơ học. Muốn vậy, cần phải biết chọn lựa các ngữ liệu, bài dạy mang tính tiêu biểu, khái quát để hình thành năng lực, phẩm chất cho học sinh. Điều đó, đặt ra trách nhiệm cho tổ/nhóm chuyên môn trong việc trao đổi, bàn bạc, thống nhất nội dung, kế hoạch dạy học phù hợp. Cán bộ quản lí, giáo viên là người phải nghiên cứu và xác định rõ chuẩn đầu ra lớp 12 THPT phải là hình thành, phát triển cho học sinh năng lực và phẩm chất gì? Nếu xác định được điều đó, thì quan trọng không phải là dạy bao nhiêu bài, cung cấp bao nhiêu kiến thức mà chính là xây dựng và lựa chọn những bài học có khả năng hình thành phẩm chất, năng lực cho người học. Nếu vậy, thì câu chuyện không phải là số lượng bài và số tiết học. Bởi vì thực tế số lượng bài học nhiều, số lượng tiết học cao nhưng nó không tỷ lệ thuận với chất lượng. Nếu thực hiện được điều đó chính là chúng ta đang chuyển dạy học từ tiếp cận nội dung sang định hướng năng lực và phẩm chất.

Thứ hai, cùng với việc điều chỉnh nội dung dạy học trong sách giáo khoa, giáo viên cần thực hiện có hiệu quả việc đánh giá, xếp loại học sinh: bên cạnh thực hiện theo Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011 ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông (đối với cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông) thì cần phải áp dụng định hướng: “chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu sách giáo khoa để tiếp nhận và vận dụng kiến thức mới thông qua giải quyết nhiệm vụ học tập đặt ra trong bài học; dành nhiều thời gian trên lớp cho học sinh luyện tập, thực hành, trình bày, thảo luận, bảo vệ kết quả học tập của mình; giáo viên tổng hợp, nhận xét, đánh giá, kết luận để học sinh tiếp nhận vàvận dụng”; “Thực hiện đánh giá thường xuyên đối với tất cả học sinh bằng các hình thức khác nhau: đánh giá qua việc quan sát các hoạt động trên lớp; đánh giá qua hồ sơ học tập, vở hoặc sản phẩm học tập; đánh giá qua việc học sinh báo cáo kết quả thực hiện một dự án học tập, nghiên cứu khoa học kĩ thuật, báo cáo kết quả thực hành, thí nghiệm; đánh giá qua bài thuyết trình về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập. Giáo viên có thể sử dụng các hình thức đánh giá nói trên thay cho các bài kiểm tra hiện hành” (Công văn Công văn số 4612/BGDĐT-GDTrH); Công văn số5555/BGDĐT-GDTrH về hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng; Công văn số 793/BGDĐT-GDTrH ngày 12 tháng 3 năm 2020của Bộ Giáo dục và Đào tạo, yêu cầu: “phân công giáo viên giao nhiệm vụ học tập theo nội dung bài học và hướng dẫn học sinh thực hiện các buổi học qua internet, trên truyền hình; phối hợp với gia đình học sinh có biện pháp quản lý hoạt động học của học sinh qua internet, trên truyền hình; nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập đã giao cho học sinh” và Công văn số803/BGDĐT-GDTrH về việc điều chỉnh khung kế hoạchthời gian năm học 2019-2020 (lần 2), trong đó quy định rõ: “triển khai các hình thức dạy học qua internet, trên truyền hình; tổ chức ôn tập, kiểm tra công nhận kết quả học tập qua internet, trên truyền hình khi học sinh đi học trở lại”.

4.2. Đối với học sinh: nâng cao ý thức tự học, tự nghiên cứu; đối với những vùng thuận lợi học sinh cần phải đầu tư đến khai thác hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong các nguồn học liệu từ bài dạy trực tuyến đến hệ thống đề thi; hoặc theo dõi các buổi học trên truyền hình (đối với những học sinh không có máy tính nối mạng, điện thoại smas).

Số tiết được giảm và dư ra trong năm học sẽ được thực hiện như sau:Dành cho tổ chức các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ, trải nghiệm, hướng nghiệp; dạy học gắn liền với di sản, dạy học gắn liền với sản xuất kinh doanh, hoặc một số đơn vị, địa phương đã điều chỉnh thêm bớt ở các tiết học để phù hợp với nội dung bài dạy học, góp phần giảm tải đối với học sinh.

Riêng đối với năm học này, việc điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng tinh giản vẫn đảm bảo kiến thức, kĩ năng và đảm bảo yêu cầu khung kế hoạch thời gian năm học 2019-2020 là một nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho Ngành giáo dục và đào tạo.

5. Trong thời gian qua, Bộ GDĐT đã ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở giáo dục trong việc phòng, chống dịch covid- 19; điều chỉnh khung thời gian năm học, những đề xuất với Chính phủ về các giải pháp cấp bách gỡ khó cho ngành giáo dục trong dịch bệnh covid-19,…
Thiết nghĩ, nếu đảm bảo thực hiện khung thời gian năm học thì trong thời gian tới Bộ GDĐT cần có những giải pháp đồng bộ và triển khai thực hiện sớm. Bên cạnh giao quyền chủ động cho các cơ sở giáo dục linh hoạt, điều chỉnh phù hợp nội dung dạy học thì cần phải hướng dẫn các cơ sở giáo dục những định hướng để đảm bảo thống nhất trên toàn quốc ở các cấp học.

Đặc biệt, quan tâm đến chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức Kỳ thi THPT QG năm 2020, Bộ GDĐT cần phải có những điều chỉnh, thay đổi phù hợp: công bố sớm cấu trúc, nội dung các Đề tham khảo; sử dụng các câu hỏi trong đề thi phù hợp với tình hình dạy học hiện nay; phát huy điểm mạnh ở các câu hỏi, đề thi trong Kỳ thi THPTQG hàng năm để tăng cường các câu hỏi để học sinh vận dụng từ thực tiễn, hạn chế tối đa dạng câu hỏi thuần túy về lí thuyết; hướng dẫn cụ thể về việc tinh giản kiến thức, giảm tải chương trình, nội dung dạy học (kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT là quyền chủ động điều chỉnh của các tỉnh; nhưng với Kỳ thi THPTQG cần phải có quan điểm thống nhất toàn quốc); bổ sung một số quy định để đảm bảo quyền lợi cho học sinh trong tuyển sinh Đại học, Cao đẳng và xét tuyển tốt nghiệp THPT.

Từ đó, góp phần tổ chức Kỳ thi THPTQG vừa đảm bảo quy chế, thực hiện được việc kiểm tra, đánh giá được chuẩn đầu ra của cấp THPT, mặt khác tạo nên kỳ thi gọn nhẹ, tinh giản, giảm áp lực, tạo sự yên tâm cho học sinh, giáo viên và phụ huynh, phù hợp với bối cảnh năm học./.
                Bài viết mong nhận được sự trao đổi mang tính xây dựng cao của các bạn đồng nghiệp!

 

                                     Nguồn: Thầy Đậu Quang Hồng – Phó phòng GDPT, CV Sở GD&ĐT Hà Tĩnh


Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 259
Hôm qua : 1.085
Tháng 03 : 13.998
Năm 2020 : 31.303